Bảo hiểm tiền gửi là gì là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên google về chủ đề . Trong bài viết này, muabaohiem.vn sẽ viết bài Bảo hiểm tiền gửi là gì? Mục đích của bảo hiểm tiền gởi là gì
Bảo hiểm tiền gửi là gì? Mục đích của bảo hiểm tiền gởi là gì
Bảo hiểm tiền gởi là gì?
Bảo hiểm tiền send là sự bảo đảm hoàn trả tiền send cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham dự bảo hiểm tiền gửi lâm vào hiện trạng mất cấp độ chi trả tiền send cho người send tiền hoặc phá sản.
Người được bảo hiểm là một mình có tiền gửi được bảo hiểm tại đơn vị tham dự bảo hiểm tiền gửi.
- tổ chức tham dự bảo hiểm tiền gửi: Là đơn vị tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các đơn vị tín dụng được nhận tiền gửi của một mình.
- đơn vị bảo hiểm tiền gửi: Là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động k vì mục đích doanh số, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, đảm bảo thành đạt an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.
Bảo hiểm tiền gửi là hoạt động phân phối dịch vụ bảo hiểm cho người gửi tiền
mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi
Trong thực tế, mục tiêu cụ thể của mỗi nền tảng bảo hiểm tiền gửi có không giống nhau nhưng tựu chung đều nhằm đạt được mục đích sau:
- Bảo vệ số đông người send tiền, thị trường có tiền gửi ít giới hạn trong tiếp cận thông tin về quản trị, điều hành và tình ảnh hoạt động của các đơn vị huy động tiền gửi;
- Góp phần đảm bảo cho nền tảng tài chính quốc gia ổn định và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng mẹo phòng, tránh rạn nứt ngân hàng;
- Góp phần thiết lập một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các tổ chức tài chính có quy mô và trình độ tăng trưởng khác nhau;
- Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người gửi tiền, đơn vị tài chính, Chính phủ và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp có tổ chức tín dụng đổ bể.
Bản chất của bảo hiểm tiền send
Bảo hiểm tiền gửi về bản chất là hoạt động phân phối dịch vụ bảo hiểm cho người send tiền. Dịch vụ này mang tính xã hội cao.
Theo phương pháp phân loại của các nhà kinh tế học, dịch vụ này thuộc loại món hàng công không thuần tuý. Cơ sở để gọi dịch vụ bảo hiểm tiền send là món hàng công k thuần túy là căn cứ vào tính không loại trừ thụ hưởng một mẹo tuyệt đối của dịch vụ này.
xuất phát từ một trong các mục tiêu của hoạt động bảo hiểm tiền gửi là góp phần đảm bảo tính ổn định của nền tảng tài chính quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ này là toàn xã hội.
Người gửi tiền có tiền send thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách bảo hiểm tiền send qua việc họ được tổ chức Bảo hiểm tiền send chi trả tiền bảo hiểm, khi tổ chức nhận tiền send của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán.
Còn người đi vay sẽ được hưởng lợi từ dịch vụ này ở chỗ tính ổn định của nền tảng tài chính tạo điều kiện cho họ sử dụng tiền vay được an toàn và thuận tiện hơn. Có được nền móng tài chính ổn định sẽ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế không giống phát triển thuận lợi… Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà dịch vụ bảo hiểm tiền send được xếp vào loại sản phẩm công không thuần tuý như vừa mới nói ở trên.
đăng ký ngay để được tư vấn, giải đáp mọi thắc đắt tiền về bảo hiểm tiền send,
Luật bảo hiểm tiền gửi
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật bảo hiểm tiền gửi với một số quy định cần chú ý sau:
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi.
Điều 5. Nguyên tắc bảo hiểm tiền gửi
1. Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật này.
2. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi phải công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
Điều 6. Tham gia bảo hiểm tiền gửi
1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Luật bảo hiểm tiền gửi
Điều 10. Các hành vi bị cấm
1. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp phí bảo hiểm tiền gửi.
2. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền bảo hiểm.
3. Gian lận, giả mạo hồ sơ, tài liệu, giấy tờ về bảo hiểm tiền gửi.
4. Cản trở, gây khó khăn, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, người được bảo hiểm tiền gửi và cơ quan, tổ chức có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi.
5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Điều 14. Cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi
1. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai trương hoạt động, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi.
3. Hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi bao gồm:
a) Đơn đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi;
b) Bản sao giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng hoặc giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
c) Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Điều 16. Thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi
1. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị tạm thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản tạm đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi theo quy định của pháp luật. Trong thời gian tạm thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi đối với khoản tiền gửi chưa nộp phí.
2. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải thông báo công khai về việc thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi trên ba số liên tiếp của một tờ báo trung ương, một tờ báo địa phương nơi đặt trụ sở chính, các chi nhánh của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và trên một báo điện tử của Việt Nam.
Điều 17. Cấp lại Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi
1. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được cấp lại Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép phục hồi hoạt động nhận tiền gửi.
2. Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi bị mất, rách nát, hư hỏng được cấp lại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp lại Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Những loại tiền được vận dụng trong bảo hiểm tiền send
Căn cứ theo Luật bảo hiểm tiền gửi, những loại tiền được vận dụng trong bảo hiểm tiền send được quy định giống như sau:
Điều 18. Tiền send được bảo hiểm
Tiền gửi được bảo hiểm là tiền send bằng đồng Viet Nam của một mình gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới hình thức tiền send có kỳ hạn, tiền gửi k kỳ hạn, tiền send tiết kiệm có kỳ hạn, chứng chỉ tiền send, kỳ phiếu, tín phiếu và các thể loại tiền gửi không giống theo quy định của Luật các đơn vị tín dụng, trừ các loại tiền send quy định tại Điều 19 của Luật này.
Điều 19. Tiền gửi k được bảo hiểm
1. Tiền gửi tại đơn vị tín dụng của một mình là người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó.
2. Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là member Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính đơn vị tín dụng đó; tiền send tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của một mình là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh bank nước ngoài đó.
3. Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền send phát hành.
Các loại tiền gửi không được bảo hiểm
Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí bảo hiểm tiền send là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp cho đơn vị bảo hiểm tiền send để bảo hiểm cho tiền gửi của người được bảo hiểm tại tổ chức tham dự bảo hiểm tiền gửi
Luật bảo hiểm tiền send quy định về mức phí giống như sau:
Điều 20. Phí bảo hiểm tiền send
1. Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm tiền send theo đề xuất của bank Nhà nước VN.
2. Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền send, ngân hàng Nhà nước VN quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể so với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền send trên cơ sở hiệu quả đánh giá và phân loại các tổ chức này.
3. Phí bảo hiểm tiền send được tính trên cơ sở số dư tiền gửi bình quân của tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
4. Phí bảo hiểm tiền send được tính và nộp định kỳ hàng quý trong năm tài chính. đơn vị tham dự bảo hiểm tiền send phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi cho đơn vị bảo hiểm tiền gửi chậm nhất vào ngày 20 tháng trước hết của quý kế tiếp.
5. Phí bảo hiểm tiền send được hạch toán vào ngân sách hoạt động của đơn vị tham dự bảo hiểm tiền gửi.
Điều 21. Phí nộp thiếu, nộp chậm
1. tổ chức tham dự bảo hiểm tiền gửi vi phạm thời hạn nộp phí bảo hiểm tiền send theo quy định tại Điều 20 của Luật này, thì ngoài việc phải nộp quá đủ số phí còn thiếu phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm bằng 0,05% số tiền nộp chậm.
2. Trường hợp tổ chức bảo hiểm tiền send phát hiện sự thiếu chuẩn xác trong việc tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi, thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm thông báo và truy thu số phí còn thiếu hoặc thoái thu đối với số phí nộp thừa trong thời hạn 15 ngày, bắt đầu từ ngày phát hiện.
3. Sau thời hạn 30 ngày, từ khi ngày phải nộp phí bảo hiểm tiền send mà tổ chức tham dự bảo hiểm tiền gửi không nộp hoặc nộp k đa số phí bảo hiểm tiền send và tiền phạt, thì đơn vị bảo hiểm tiền send có văn bản đề xuất bank Nhà nước Việt Nam trích account của tổ chức tham dự bảo hiểm tiền send tại ngân hàng Nhà nước VN để nộp phí bảo hiểm tiền send và tiền phạt. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận văn bản đề nghị của tổ chức bảo hiểm tiền send, bank Nhà nước VN có trách nhiệm giải quyết.
4. Trong trường hợp đơn vị tham dự bảo hiểm tiền send k nộp hoặc nộp k đầy đủ phí bảo hiểm tiền gửi mà ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải trích tài khoản của tổ chức tham dự bảo hiểm tiền send để nộp phí theo quy định tại khoản 3 Điều này lần thứ hai, thì đơn vị bảo hiểm tiền send có văn bản đề xuất bank Nhà nước Viet Nam đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động nhận tiền send của đơn vị tham dự bảo hiểm tiền send.
Hoạt động bảo hiểm tiền send của các bank tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nền tảng Bảo hiểm tiền send được thành lập từ năm 1999 và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2000 với hạn mức chi trả tối đa ban đầu là 30 triệu đồng.
Đến năm 2005, hạn mức chi trả tối đa được nâng lên mức 50 triệu đồng và được vận dụng cho tới giữa năm 2017. Nhưng theo quy định mới, bắt đầu từ ngày 5/8/2017, người gửi tiền được chi trả bảo hiểm tiền gửi một mức chung là 75 triệu đồng cho toàn bộ các hạn mức gửi tiền trong trường hợp ngân hàng phá sản.
Hiện gốc vốn của Bảo hiểm tiền gửi VN được tích lũy dựa trên 4 cấu phần, gồm:
- Vốn điều lệ do Nhà nước cấp
- gốc thu từ phí bảo hiểm tiền send hàng năm
- nguồn thu từ hoạt động đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi
- Các gốc thu khác theo quy định của luật pháp.
Trong đó, nguồn thu phí bảo hiểm tiền send đóng góp một phần đông vào nguồn lực tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thu phí từ các đơn vị tham dự bảo hiểm tiền send với mức phí đồng hạng là 0,15% tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền send được bảo hiểm tại tổ chức tham dự bảo hiểm tiền send.
phân tích hoạt động bảo hiểm tiền gửi năm 2018, ông Vũ Văn Long, Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền send (BHTG) Viet Nam cho biết, tổ chức này đang hoàn thiện kế hoạch kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động được NHNN giao với tổng số phí BHTG thu được là 6.628,5 tỷ đồng, đạt 100,7% plan.
Tính đến 31/12/2018, tổng gốc vốn tạm thời nhàn rỗi được đầu tư là 46.679,6 tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2017; tổng thu nhập đạt 2.595,1 tỷ đồng, bằng 101,7% kế hoạch; lợi nhuận sau thuế đạt 121,7 tỷ đồng, bằng 127,5 kế hoạch; tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu đạt 2,08%, gia tăng 0,49% đối với kế hoạch; k phát sinh nợ phải trả quá hạn…
Nguồn: https://thebank.vn/
Nguồn: