Các chính sách an sinh xã hội mới nhất hiện nay là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên google về chủ đề các chính sách an sinh xã hội mới nhất hiện nay. Trong bài viết này, muabaohiem.vn sẽ viết bài các chính sách an sinh xã hội mới nhất hiện nay
các chính sách an sinh xã hội mới nhất hiện nay
1. định nghĩa Để hiểu rõ khái niệm an sinh không gian (ASXH), cần Quan sát lại lịch sử tăng trưởng của nhân loại. |
Con người mong muốn tồn tại và tăng trưởng trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những món hàng quan trọng. Của cải thế giới càng nhiều, cấp độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào cấp độ lao động của con người. ngoài ra, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng đủ sức lao động xây dựng được doanh thu. trái lại, có rất nhiều trường hợp chông gai, bất hạnh, rủi ro xảy ra sử dụng cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống không giống, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… thêm nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh sống. Những điều kiện thiên nhiên và thế giới không thuận tiện vừa mới làm cho một bộ phận dân cư phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc đời bình thường. thành ra, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục chông gai. Từ xa xưa, trước những chông gai, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự giải quyết, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; song song, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu đưa của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và tăng trưởng dưới nhiều thể loại không giống nhau. Những thành phần đoàn kết, hướng thiện đó vừa mới tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ không gian không giống nhau. Trong tiến trình tăng trưởng thế giới, đặc biệt là từ sau cuộc phương pháp online công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để tạo dựng và tăng trưởng. tiến trình công nghiệp hoá sử dụng cho đội ngũ người sử dụng công ăn lương tăng lên, cuộc đời của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động sử dụng thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, nguy cơ, bị mất việc sử dụng hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ so với cuộc sống bình thường của những người không có gốc thu nhập nào không giống ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày vừa mới buộc những người sử dụng công ăn lương tìm mẹo giải quyết bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); song song, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc đời cho họ. Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đang thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm doanh thu vì bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các thể loại bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro ngành nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã xây dựng ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và k chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện Nhiệm vụ của mình (cơ chế ba bên). tính chất đoàn kết và chia sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: người khác, không phân biệt già – trẻ, nam – nữ, người khoẻ – người yếu mà toàn bộ đều phải tham gia đóng góp. Mô hình này của Đức đang lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh toàn cầu thứ hai, ASXH đang lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các thể loại truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng liên tục tăng trưởng để hướng dẫn những người có môi trường khó khăn giống như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người k may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch vụ xã hội giống như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, đề phòng y tế tái like ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế – không gian, tài chính và quản lý không giống nhau. hệ thống ASXH được hình thành và tăng trưởng rất thông dụng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng công đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính. Đạo luật trước tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó đơn vị Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. ASXH đang được tất cả quốc gia thừa nhận là một trong những quyền con người. nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của thế giới có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, thế giới và văn hoá cần cho tư cách và sự tự do phát triển con người…”. Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO vừa mới thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu phù hợp tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đang có trên toàn toàn cầu thành 9 bộ phận. không những thế, ngày nay, do tính chất phức tạp và phổ biến của ASXH nên luôn luôn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. khái niệm về ASXH cũng còn khá không giống biệt giữa các đất nước. Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm thế giới, bảo trợ không gian, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau. Theo nghĩa chung nhất, social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc sử dụng, có nhà ở; được đảm bảo doanh thu để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị nguy cơ, tai nạn, tuổi già…Theo nghĩa này thì tầm “ bao” của mạng xã hội Security rất to và vì thế khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa giống như trên cũng là điều dễ hiểu. Theo nghĩa hẹp, mxh Security được hiểu là sự bảo đảm doanh thu và một số điều kiện sinh sống thiết yếu không giống cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất doanh thu do bị giảm hoặc mất mức độ lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch hoạ…Theo chúng tôi, ASXH mà chúng ta vừa mới nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm mạng xã hội Security này. Bên cạnh khái niệm này, từ những mẹo tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học mang ra những khái niệm rộng- hẹp không giống nhau về ASXH, chẳng hạn: – Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và không gian học người Anh (1879-1963), ASXH là sự bảo đảm về việc sử dụng khi người ta còn sức sử dụng việc và bảo đảm một lợi tức khi người xem k còn sức sử dụng việc nữa. – Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng trị giá của một mình, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ. Để easy thống nhất, theo chúng tôi nên dùng định nghĩa của đơn vị lao động quốc tế (ILO) đã sử dụng: ASXH là sự bảo vệ của xã hội so với các member của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những chông gai về kinh tế và không gian do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. giống như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong thế giới và thành ra mang tính không gian và tính nhân văn sâu sắc. 2. Bản chất và tính tất yếu khách quan của an sinh thế giới Theo định nghĩa an sinh không gian ở trên, đủ nội lực thấy: – ASXH trước tiên đó là sự bảo vệ của không gian so với các thành viên của mình. – Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng. – mục đích của sự bảo vệ này nhằm hướng dẫn các member của thế giới trước những biến cố, những “ rủi ro xã hội” kéo đến bị giảm hoặc mất thu nhập…. giống như vậy, đủ nội lực nói, bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo doanh thu và đời sống cho các công dân trong không gian với phương pháp hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm xây dựng sự “an sinh” cho mọi thành viên trong thế giới và vì thế mang tính thế giới và tính nhân văn sâu sắc. đủ sức thấy rõ bản chất của ASXH từ những góc cạnh sau: 1. ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con người đã được Liên hợp quốc thừa nhận. Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục đích của nó. mục đích của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất doanh thu hoặc phải tăng trưởng ngân sách đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều tại sao khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Để xây dựng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên quy tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng thế giới, được thực hiện bằng nhiều hình thức, cách thức và các biện pháp không giống nhau. ASXH, như đã nêu, có nội dung rất rộng to, nhưng tập hợp vào ba chủ đề chủ yếu: – Thứ nhất, là trụ cột cơ bản, quan trọng cho sự bảo đảm, đó là sự BHXH. đủ sức nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH. Chỉ khi có một nền móng BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp. Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoản thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản doanh thu bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất mức độ lao động hoặc mất việc sử dụng. – Thứ hai, là sự phân phối dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao động và các thành viên gia đình họ, nhằm bảo đảm cho họ tái tạo được sức lao động, duy trì và tăng trưởng nền sản xuất không gian, song song tăng trưởng mọi mặt cuộc đời của con người, kể cả phát triển bản thân con người. – Thứ ba, là các loại hỗ trợ thế giới (cung cấp tiền, hiện vật…) cho những người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo khó), những người cần sự hướng dẫn đặc biệt cho các gánh nặng gia đình… ASXH cũng khuyên rằng, thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp giống như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ đi lại… nền tảng ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế dễ dàng nhằm thay thế thu nhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “những chuyển giao xã hội”, tức là những công cụ, những biện pháp phân phối lại tiền nong, của cải và các dịch vụ không gian có lợi cho những nhóm người “yếu thế” hơn (hiểu một hướng dẫn tương đối, biện chứng nhất – TG) trong cộng đồng thế giới. giống như vậy, đủ sức thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các member của thế giới trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi. 2. ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao xinh. Mỗi người trong thế giới từ những địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác nhau… là những hiểu hiện khác nhau của một nền tảng giá trị không gian. Nhưng vượt lên trên toàn bộ, với nhân cách là một công dân, họ phải được bảo đảm mọi mặt để phát huy đa số những cấp độ của mình, không phân biệt địa vị không gian, chủng tộc, tôn giáo… ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những lực đẩy quan trọng để khắc phục những “biến cố”, những “rủi ro xã hội”, có thời cơ để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng. ASXH click thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những hợp lý mực của Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ đó, một mặt có thể chống thói ỷ lại vào xã hội; mặt không giống, có thể chống lại được tư tưởng mạnh ai nấy lo, “đèn nhà ai nhà ấy rạng”… ASXH là nguyên nhân tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… cùng lúc, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên. 3. ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và tăng trưởng xã hội. Sự chia sẻ trong cộng đồng, hướng dẫn những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một thế giới tăng trưởng lành mạnh. 3.1. ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội. Trên bình diện không gian, ASXH là một tool để thay đổi các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là so với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự cung cấp lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đã sử dụng việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình. Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định. Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những group người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối). Sự cung cấp lại doanh thu theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người có doanh thu cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế”. phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát chi phí, thu nhập và lợi nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, phân phối hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng như dạy bảo, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…). Việc cung cấp lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất to (thực hiện cho một “tập hợp mở” tương đối). bên cạnh đó, trên thực tế, việc thực hiện cung cấp lại theo chiều dọc còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và đơn vị. Song cũng có thể có một số biện pháp để thực hiện một số chế độ cho những người có thu nhập thấp thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp. Những người có doanh thu thấp thường được miễn giảm chế độ đóng góp, hoặc được người chủ dùng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn. nền tảng trợ cấp cũng note tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn đối với những người có doanh thu cao). Sự cung cấp theo chiều ngang và theo chiều dọc đang tạo ra một lưới ASXH (social safety net hoặc social security net). 3.2. ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Đến nay người đọc vừa mới ý thức được rằng, thành đạt của không gian là một tiến trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố thế giới tiếp tục tác động lẫn nhau. thành đạt của toàn cầu trong những năm Hiện nay đặt ra mục đích là bảo đảm những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và mang lại những lợi ích cho mọi người; bảo đảm cung cấp công bằng hơn về doanh thu và của cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được kết quả sản xuất, bảo đảm việc làm, xây dựng rộng và cải thiện về thu nhập dạy bảo và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường… đáp ứng những nhu cầu tối cần thiết cho những người gặp chông gai, bất hạnh là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế giới. Những lưới trước nhất của ASXH vừa mới bảo vệ, giảm bớt sự chông gai cho họ. thành đạt sau này của những lưới không giống xây dựng sự phổ biến trong ASXH, giải quyết được những nhu cầu không giống nhau của nhiều group người trong những trường hợp “rủi ro xã hội”. tuy nhiên, phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ có chức năng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy tiến bộ thế giới. 3.3. ASXH là một tất yếu khách quan trong cuộc sống không gian loài người. Trong bất kỳ xã hội nào, ở bất cứ công đoạn phát triển nào cũng đều có những nhóm dân cư, những đối tượng giao động tình trạng không thể tự lo liệu được cuộc đời, hoặc trong cảnh gặp sự cố nào đó trở thành những người “yếu thế” trong xã hội. Nếu trong không gian có những nhóm người “yếu thế”, những người gặp nguy cơ, bất hạnh thì cũng chính trong thế giới đó lại nẩy sinh những cơ chế hoặc tự phát, hoặc tự giác, thích nghi để giúp đỡ họ. Đây là cơ sở để hệ thống ASXH tạo dựng và tăng trưởng. hiển nhiên, ASXH là một quá trình phát triển toàn diện, từ không khó khăn đến phức tạp và ngày càng phong phú, đa dạng. 3. Các bộ phận của ASXH Về mặt cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm những bộ phận cơ bản là: – Bảo hiểm không gian. – giúp đỡ xã hội. – Trợ cấp gia đình. – Các quỹ tiết kiệm xã hội. – Các dịch vụ không gian khác được tài trợ bằng gốc vốn công cộng… content chi tiết của những bộ phận này của ASXH sẽ được chúng tôi mô tả trong các kỳ tới, trong bài này chỉ nêu rất khái quát. Bảo hiểm không gian Đây là bộ phận lớn nhất trong nền tảng ASXH. đủ sức nói, k có BHXH thì k thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH ra đời và phát triển kể từ cuộc cách online công nghiệp xuất hiện ở châu Âu. BHXH nhằm bảo đảm cuộc đời cho những người công nhân lực nghiệp và gia đình họ trước những nguy cơ không gian như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, sử dụng giảm hoặc mất doanh thu. tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có khuynh hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH. Khi đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng định nghĩa mạng xã hội SECURITY và luôn luôn dịch là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ mxh INSURANCE. ngoài ra, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ này là một. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, đủ nội lực hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản doanh thu từ ngành nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc sử dụng, thông qua việc hình thành và dùng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm không gian, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; cùng lúc góp phần bảo đảm an toàn xã hội. BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên quy tắc cùng chia sẻ nguy cơ giữa những người tham gia; đòi hỏi all mọi người tham dự phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; ngân sách cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được tạo dựng từ sự đóng góp của những người tham dự, thường là sự share giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, k liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH… trợ giúp không gian Đó là sự hướng dẫn của Nhà nước và xã hội về doanh thu và các điều kiện sinh sống thiết yếu không giống đối với mọi member của thế giới trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không quá đủ cấp độ để tự lo được cuộc đời tối thiểu của chính mình và gia đình. giúp đỡ không gian là sự hướng dẫn thêm của cộng đồng và thế giới bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thêm vào để thị trường được hướng dẫn đủ nội lực phát huy cấp độ tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng. trợ giúp không gian có đặc điểm: – Thuế được sử dụng để tài trợ cho các chương trình thế giới thông dụng để chi trả trợ cấp. – Trợ cấp được chi trả khi các điều kiện theo quy định được cung cấp. – Thẩm tra tài sản (thu nhập, tài sản và vốn) thường dùng được định hình mức hưởng trợ cấp. Trợ cấp gia đình -Trong hệ thống ASXH của nhiều nước quy định chế độ BHXH dựa trên những nhu cầu đặc biệt và có những ngân sách bổ sung gắn với gia đình. – Những bí quyết ứng dụng bao gồm việc sử dụng cơ cấu thuế để gắn với trách nhiệm gia đình. Người không có con phải nộp thuế cao hơn những người có con; người ít con phải nộp thuế nhiều hơn người đông con… Các quỹ cắt giảm không gian Ngoài BHXH, trong nền tảng ASXH của nhiều nước có đơn vị các quỹ tiết kiệm dựa trên đóng góp một mình. – Những đóng góp được tích tụ dùng để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra. Đóng góp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định. – Từng một mình nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời, không chia sẻ rủi ro cho người khác… Các dịch vụ xã hội được tài trợ bằng gốc vốn công cộng Ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước phát triển, trong hệ thống ASXH có nhiều dạng dịch vụ không gian, được tài trợ bằng gốc vốn công cộng (ngân sách Nhà nước), bao gồm: – Trợ cấp cơ bản cho mọi cư dân, hoặc toàn bộ những người vừa mới từng làm việc trong một khoảng thời gian nhất định. – Trợ cấp này không liên quan đến tài sản trước đó của người thụ hưởng; các chế độ được chi trả từ ngân sách Nhà nước. Trách nhiệm từ chủ dùng lao động – Thường chỉ là nền móng tai nạn ngành nghiệp hoặc nền tảng đền bù cho người lao động. – Chủ yếu liên quan đến tai nạn tại kênh sử dụng việc và bệnh ngành nghiệp. – Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động so với chăm sóc y tế và bồi thường tuỳ theo mức độ tai nạn và bệnh ngành nghiệp. – đủ nội lực gồm có một phần để chi trả chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc (nằm trong chế độ BHXH). Dịch vụ xã hội không giống – Quy định thêm về ASXH dưới các hình thức khác. – Khi không có nền tảng ASXH. – đủ nội lực được thực hiện bởi các tổ chức tình nguyện hoặc phi Chính phủ. – gồm có các dịch vụ đối với người cao tuổi, người tàn tật, trẻ em, phục hồi chức năng cho người bị tai nạn và tàn tật, các hoạt động phòng chống trong y tế (ví dụ tiêm phòng), plan hóa gia đình. 4. Chính sách an sinh thế giới trong điều kiện kinh tế đối tượng ở Việt Nam Tiếp cận về chính sách xã hội bắt đầu từ con người sinh sống thành cộng đồng thì các mối gắn kết giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được tạo dựng và tăng trưởng ngày càng phức tạp và thông dụng. Trong tiến trình phát sinh và tăng trưởng các mối liên kết không gian này, làm nảy sinh các vấn đề thế giới cần được để ý giải quyết. Có những chủ đề phát sinh và tăng trưởng theo từng chế độ chính trị thế giới, nhưng cũng có các vấn đề cần tồn tại ở các chế độ chính trị xã hội khác nhau. Có những vấn đề có tính chất riêng, có những chủ đề thế giới lại có tính thế giới, đòi hỏi toàn nhân loại phải giải quyết. Mỗi chế độ, niên đại đều phải thường xuyên khắc phục các chủ đề xã hội của chế độ trước, của niên đại trước để lại, song song phải sơ sài với những vấn đề mới nảy sinh trong bây giờ cũng giống như sẽ phát sinh trong tương lai. Để khắc phục những vấn đề không gian, một trong những Nhiệm vụ cơ bản của một đất nước là phải thiết lập những chính sách xã hội. Chính sách thế giới là vấn đề rất rộng lớn, cho nên có nhiều mẹo tiếp cận khác nhau, chẳng hạn: – Theo nhà xã hội học Xô Viết V.Z.Rogovin: “Với tính hướng dẫn là một bộ môn khoa học, chính sách thế giới là một lĩnh vực tri thức không gian học, tìm hiểu nền móng về các công cuộc thế giới quyết định hoạt động sống của con người trong thế giới, xét theo khả năng tác động cai quản đến các công cuộc đó. Có đa số cơ sở để coi chính sách thế giới như là sự hòa quyện của khoa học và thực tế, như là sự nghiên cứu phức hợp, dự báo về các gắn kết, các quá trình thế giới và sự áp dụng thực tiễn những tri thức thu thập được nhằm mục đích thống trị các công cuộc và các gắn kết ấy” (V.Z.Rogovin – Chính sách thế giới trong XHCN phát triển – Matxcova, 1980). – Theo giáo sư Bùi Đình Thanh, để hiểu được chính sách xã hội phải trả lời được 4 câu hỏi: Ai đặt ra chính sách xã hội? Đặt ra chính sách thế giới để cho ai? content mục tiêu gì? Từ đó ông đưa ra định nghĩa về chính sách thế giới như sau: “Chính sách xã hội là cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, những biện pháp giải quyết những chủ đề không gian dựa trên những tư tưởng, quan niệm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng không gian nói chung và từng group thế giới nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống, vật chất, kiến thức tinh thần của người dân” (Bùi Đình Thanh – Chính sách xã hội: Một số chủ đề luận giải và thực tiễn, Hà Nội, 1993). Chính sách không gian luôn gắn với một chế độ chính trị – xã hội nhất định. vì vậy, khái quát lại đủ sức hiểu chính sách thế giới như sau: Chính sách thế giới là sự thể chế hóa và cụ thể hóa những đường lối, chủ trương khắc phục các vấn đề không gian, dựa trên những tư tưởng, quan niệm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng thế giới nói chung và từng nhóm không gian nói riêng, nhằm tác động trực tiếp vào con người và điểu chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với thế giới, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) Đảng ta coi chính sách không gian là chính sách bao trùm lên mọi mặt cuộc sống của con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và kiến thức, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, gắn kết dân tộc… Với hướng dẫn tiếp cận như vậy đủ nội lực thấy chính sách không gian thực chất là một nền móng các chính sách. Mỗi chính sách xã hội có phân khúc, phạm vi, nội dung điều chỉnh nhất định và nhằm vào một mục đích nhất định. Chính sách thế giới thông dụng là loại chính sách có tác động, có tác động sâu rộng đến đời sống của các tầng lớp dân cư, đến toàn thể cộng đồng. Chính sách an sinh xã hội trong hệ thống chính sách không gian ở VN Trong mô ảnh nêu trên, chính sách An sinh xã hội (ASXH) là loại chính sách xã hội đa dạng. Trong chính sách ASXH, như các phần trước đang nêu, về mặt cấu trúc gồm các bộ phận hợp thành (còn gọi là các trụ cột) là BHXH cho người lao động; trợ giúp xã hội đối với mọi member của xã hội khi họ gặp phải rủi ro; chăm sóc thể trạng và các dịch vụ không gian bằng gốc vốn của cộng đồng… Trong các bộ phận này của ASXH, BHXH là một bộ phận (hay trụ cột) to nhất, cơ bản nhất và ổn định nhất của nền móng này. Chính sách BHXH được coi là trụ cột to nhất của hệ thống ASXH đất nước, bởi lẽ BHXH có đối tượng rất lớn và all người lao động – những người tạo ra của cải vật chất cơ bản cho không gian. Tính cơ bản, tính ổn định của BHXH trong nền tảng ASXH thể hiện thông qua vấn đề tài chính để thực thi chính sách của nền tảng này. gốc tài chính của BHXH được tạo dựng và sử dụng thông qua quỹ BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tài chính tụ hội, được tạo dựng và tồn tích dần do sự đóng góp theo luật định của các bên tham gia BHXH. Quỹ này được bảo hộ và đầu tư phát triển nhằm mục tiêu phục vụ tốt hơn cho các bên thụ hưởng BHXH. BHXH càng hoạt động tốt, quỹ BHXH càng ngày càng phát triển, góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ, cùng lúc sẽ xây dựng sự vững mạnh của nền ASXH quốc gia. Cùng với các bộ phận khác, BHXH góp phần tích cực xây dựng “lưới an toàn xã hội” đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Điều này cho thấy chính sách BHXH có vai trò lớn lớn trong hệ thống ASXH nói riêng và nền móng chính sách xã hội nói chung của đất nước. Quay trở lại với chủ đề ASXH trong kinh tế đối tượng. giống như đang nêu, nhu cầu về ASXH không chỉ được thực hiện trong kinh tế phân khúc. không những thế, trong kinh tế thị trường với những quy luật vốn có của mình, một mặt tạo cơ hội cho con người phát huy cấp độ và tiềm năng của mình; mặt khác, con người có rủi ro gặp phải nguy cơ, bất lợi cao trong đời sống thế giới. Nói mẹo khác, kinh tế thị trường sử dụng cho con người luôn có những bất an về mặt không gian và do đó, nhu cầu về ASXH càng cao. Từ giác độ khác cho thấy, kinh tế đối tượng tuân theo một số quy luật cơ bản, trong đó có quy luật trị giá và quy luật cung – cầu. Chỉ khi nền kinh tế đối tượng phát triển, các quan hệ trong sản xuất kinh doanh, liên kết lao động mới được thể hiện rõ. Người lao động sử dụng việc trên cơ sở hợp đồng lao động, họ được trả công lao động trên cơ sở giá cả của phân khúc và mối liên kết lao động là mối gắn kết thỏa thuận. Việc cam kết bảo đảm cho người lao động về tiền lương khi làm việc và bảo đảm trả cho những rủi ro được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Đây là hệ thống của BHXH hiện đại – một bộ phận cần thiết cả về tầm bao quát và tài chính của hệ thống ASXH của mỗi đất nước. BHXH trong nền kinh tế phân khúc tồn tại, hoạt động và tăng trưởng dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa người sử dụng lao động (chủ) và người lao động (thợ) thông qua bên thứ ba – đơn vị sự nghiệp BHXH. Về mặt tài chính, mối gắn kết này thể hiện ở sự đóng góp có tính chất bắt buộc (đóng phí BHXH) của người dùng lao động và người lao động để tạo dựng và tăng trưởng quỹ BHXH. Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả cho các thị trường thụ hưởng BHXH và cho các ngân sách cai quản của bộ máy BHXH. mối quan hệ này là mối gắn kết đặc trưng của BHXH và chỉ tồn tại được trong cơ chế phân khúc. song song với BHXH, trong nền tảng ASXH còn có các bộ phận không giống do các quỹ công cộng hoặc cộng đồng đảm nhận giống như trợ giúp không gian, trợ cấp gia đình… hoặc các dịch vụ khác được phân phối bởi ngân sách Nhà nước (thông qua việc đóng thuế của mọi doanh nghiệp, mọi người dân) hoặc của cộng đồng. Mặc dù những quỹ này có tính không gian nhiều hơn, nhưng chỉ đủ nội lực phát huy được trong điều kiện nền kinh tế đối tượng. Bởi lẽ, kinh tế phân khúc mới đủ nội lực thông dụng được nguồn lực, mới phát huy được các tiềm năng của con người để thực hiện các công việc có tính thế giới này. Ngay cả với các đối tượng thụ hưởng cũng không chỉ bị động hưởng cái thế giới cung cấp, mà phải tích cực hơn để tiết kiệm những gánh nặng của không gian. Kinh tế đối tượng vừa mới trong công cuộc tạo dựng ở Việt Nam, nhưng những content của ASXH thì đang được thực hiện khá lâu. Do điều kiện kinh tế – xã hội, kiến thức lịch sử, mầm mống về ASXH vừa mới có trong dân gian nước ta. Những câu thành ngữ “áo lành đùm áo rách”, “thương người giống như thể thương thân”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”…, vừa mới thể hiện tính cộng đồng ở nước ta và nó đang góp phần điều chỉnh các hành vi trong thế giới về các hoạt động mang nội dung ASXH và dần được Nhà nước (kể từ thời phong kiến cho đến nay) thiết lập thành các chính sách về ASXH. Trong xã hội Viet Nam cận đại và đương đại, những content của ASXH cũng đã được thực hiện, đó là BHXH so với công nhân, viên chức Nhà nước (trước năm 1995); là cứu trợ thế giới so với những người nghèo, người không may bị rủi ro trong cuộc sống; là giảm giá thế giới so với những người có công với đất nước… Một đặc trưng cơ bản của các hoạt động ASXH ở Viet Nam trong thời kỳ trước đổi mới là do Nhà nước thực hiện. Nhà nước đảm nhận cả hai vai, vừa là người ra chính sách, vừa là người thực hiện chính sách thông qua bộ máy của mình. Với cơ chế điều hành này mà gốc lực tài chính chủ yếu là từ chi phí Nhà nước, chưa có sự tham gia đông đảo của người dân, của cả không gian. Cơ chế điều hành theo kiểu hành chính mệnh lệnh này đã không cho phép người dân phát huy những gốc lực của mình cho các hoạt động ASXH. vì vậy, về phía thế giới thì lãng phí gốc lực nhưng phân phối lại mang tính bình quân. Về phía người thụ hưởng thì chờ mong nhiều vào Nhà nước, không tự vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh… Chỉ đến khi Đảng và Nhà nước thực hiện đổi mới, đưa nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế phân khúc có sự thống trị của Nhà nước, các hoạt động ASXH mới có sự thay đổi về cơ bản. Cũng giống như các nước có nền kinh tế đối tượng, kinh tế thị trường ở VN đang sử dụng cho đời sống kinh tế – thế giới năng động hơn, thông dụng hơn. Kinh tế đối tượng mới tạo điều kiện hình thành các thành phần kinh tế. Người lao động có thời cơ và có điều kiện hơn phát huy được tiềm năng và mức độ của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong các hoạt động xã hội. Mặt không giống, trong kinh tế thị trường, nhất là trong công đoạn mới phát triển, người dân nói chung và người lao động nói riêng easy bị tác động tiêu cực các mặt trái của kinh tế đối tượng. đóng cửa, thất nghiệp là những nguy cơ luôn tiềm ẩn; tệ nạn không gian, phân hóa giàu nghèo là điều khó tránh khỏi… Những nguy cơ này sử dụng tăng trưởng nhu cầu về ASXH trong dân cư Việt Nam hiện đại. Đặc trưng cơ bản của ASXH trong nền kinh tế phân khúc ở nước ta là sự chuyển giao dần dần “công việc” từ Nhà nước sang cho không gian, cho cộng đồng, nhất là các hoạt động trợ giúp thế giới, xóa đói giảm nghèo… Nổi bật nhất trong các bộ phận ASXH của VN hiện đại đó là BHXH. BHXH là trụ cột cơ bản nhất, có ý nghĩa quyết định nhất đối với nền móng ASXH của mỗi đất nước, trong đó có cả nước ta. Nếu giống như trước đây, phân khúc BHXH của nước ta chỉ bó hẹp trong phạm vi công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang thì chỉ đến khi hình thành các thành phần kinh tế, chúng ta mới có điều kiện xây dựng rộng BHXH cho người lao động trong các yếu tố kinh tế này. Nếu giống như trước đây, tài chính BHXH chủ yếu là do chi phí Nhà nước đảm nhận, thì đến nay vừa mới được chia sẻ bởi người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động và người sử dụng lao động qua việc đóng BHXH để tạo dựng quỹ BHXH vừa mới thể hiện được Nhiệm vụ cũng như ích lợi của mình, khác hẳn với trước đó lệ thuộc vào chi phí Nhà nước. Người lao động trong các thành phần kinh tế có quyền được thụ hưởng BHXH khi có nhu cầu trên cơ sở đóng góp của mình cho quỹ BHXH. người sử dụng lao động của các công ty cần có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn. Quỹ BHXH k hoàn toàn dựa vào vào chi phí Nhà nước, được Nhà nước bảo hộ nên đang chủ động về gốc chi BHXH và đáp ứng ngày càng tốt hơn cho người thụ hưởng, hạn chế được tính bình quân trong các trợ cấp BHXH. Trong nền kinh tế phân khúc, vai trò của Nhà nước về BHXH k những bị giảm đi giống như nhiều người hiểu, mà trái lại càng grow up. Chỉ có điều, nếu như trước đây, Nhà nước vừa ra chính sách vừa thực hiện chính sách BHXH, thì nay chỉ thực hiện các tính năng quản lý: xây dựng chính sách, thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH. Việc tách các chức năng thống trị Nhà nước và chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở VN đang làm cho các hoạt động BHXH hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn cho người lao động. Bộ phận quan trọng không giống trong nền tảng ASXH ở Viet Nam đó là các hoạt động cứu trợ / giúp đỡ thế giới. Do điều kiện tự nhiên k thuận tiện, nên lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều kênh và năm nào cũng xảy ra sử dụng một bộ phận dân cư lâm vào tình cảnh túng quẫn. Mặt khác, nghèo đói, hậu quả của chiến tranh và những ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái kinh tế đối tượng như mại dâm, không có thực túy và các tệ nạn xã hội khác… đang tạo dựng một nhóm dân cư cần được cứu trợ / giúp đỡ thế giới. Nếu giống như việc cứu trợ / trợ giúp này trước đây chủ yếu do Nhà nước thực hiện với những “định mức” cả về tiền và hiện vật rất mang tính bình quân, thì trong kinh tế thị trường, các hoạt động này vừa mới được “xã hội hóa”, đa dạng hơn. nguồn lực cho cứu trợ / giúp đỡ không gian đã được phổ biến hóa từ Nhà nước, người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức thế giới và nguồn lực quốc tế. Điều cơ bản nhất, đó là Nhà nước đã xây dựng “hành lang pháp lý” và tạo điều kiện hết sức thuận lợi để phát huy các gốc lực này nhằm hỗ trợ cho những người k may bị thiệt thòi có cơ hội vươn lên hòa nhập với cộng đồng. Nhà nước luôn luôn giữ vai trò rất lớn trong các hoạt động cứu trợ / hỗ trợ thế giới này thông qua việc thiết lập cơ chế chính sách và định hướng hoạt động. Nói tổng kết, những đặc trưng cơ bản nhất thể hiện rõ mối quan hệ giữa kinh tế đối tượng và ASXH ở Viet Nam là: – Kinh tế thị trường làm cho các hoạt động kinh tế – xã hội năng động hơn, người dân được phát huy mức độ của mình; cùng lúc kinh tế phân khúc tạo ra những “rủi ro xã hội” và luôn tiềm ẩn những “rủi ro xã hội” mới sử dụng tăng trưởng nhu cầu về ASXH. – Kinh tế phân khúc sử dụng cho đời sống các tầng lớp dân cư refresh, Nhìn chung mức sống dân cư được nâng lên, nhưng sự phân hóa giàu nghèo grow up. Điều này sử dụng cho nhu cầu về ASXH vừa được nâng lên và vừa thông dụng hơn. – đang có sự chuyển giao dần từ Nhà nước sang cộng đồng các hoạt động ASXH. – Nhà nước giữ vai trò hoạch định chính sách, tạo ra cơ chế phát huy tối đa tiềm năng và khả năng của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng và toàn xã hội trong các hoạt động ASXH. cùng lúc, Nhà nước có điều kiện thực hiện tính năng định dạng và rà soát, kiểm soát các hoạt động ASXH. – Kinh tế phân khúc vừa mới giúp cho các thành phần kinh tế phát triển, xúc tiến thành đạt kinh tế – thế giới, xây dựng tiền đề, cơ sở vững chắc cho các hoạt động ASXH. – Từng người dân, từng cộng đồng có điều kiện và thời cơ phát huy khả năng của mình trong cuộc đời, có điều kiện hơn để tham dự vào nền tảng ASXH (tham gia BHXH), song song có điều kiện về vật chất để tham dự vào các hoạt động ASXH (đóng góp cho các hoạt động cứu trợ / giúp đỡ xã hội…). – gốc lực cho các hoạt động ASXH được phổ biến hơn, phong phú hơn. – Người thụ hưởng chính sách ASXH được đảm bảo hơn, nhưng song song họ có suy nghĩ hơn so với bản thân (đối với group đối tượng của cứu trợ / hỗ trợ xã hội), tích cực vươn lên để hòa nhập với cộng đồng. không giống với nhiều nước có nền kinh tế thị trường, ASXH ở Viet Nam được thực hiện trong điều kiện nền kinh tế đối tượng có sự quản lý của Nhà nước theo định hình XHCN. thêm nữa, ASXH ở Viet Nam còn được thực hiện trong một môi trường kiến thức truyền thống. vì vậy, ASXH vừa mới kết hợp hài hòa những tinh hoa của nhân loại và truyền thống của dân tộc. Điều này đang đem lại cho nền ASXH ở nước ta một sắc thái riêng mà không hề nước nào cũng có được. bên cạnh đó, sự kết hợp này không hề ở nơi nào và lúc nào cũng hài hòa, do vậy vẫn còn hiện tượng những hoạt động của cộng đồng về ASXH thì lại có xu hướng hành chính hóa, Nhà nước hóa (nhất là trong các lĩnh vực cứu trợ / trợ giúp xã hội hoặc các hoạt động nhân đạo từ thiện); trái lại, có những hoạt động thuộc phạm vi cai quản của Nhà nước thì lại đang bị xã hội hóa một cách thái quá, nên dễ bị lạm dụng, cần sớm được điều chỉnh cho thêm vào. TS. MẠC TIẾN ANH báo chí BẢO HIỂM không gian SỐ 1/2005, SỐ 2/2005 VÀ SỐ 4/2005 Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com |