Các hình thức xuất khẩu là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên google về chủ đề Các hình thức xuất khẩu. Trong bài viết này, muabaohiem.vn sẽ viết bài Các hình thức xuất khẩu chủ yếu mới nhất hiện nay
Các thể loại xuất khẩu chủ yếu
Trên thị trường thế giới, các nhà buôn giao dịch với nhau theo những mẹo nhất định. Ứngvới mỗi mẹo xuất khẩu có đặc điểm riêng. Kỹ thuật tiến hành riêng không những thế trong thực tế xuất khẩu thường sử dụng một trong những bí quyết chủ yếu sau:
Xuất khẩu trực tiếp
định nghĩa trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính công ty sản xuất ra hoặc thu mua từ các tổ chức sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các đơn vị cuả mình.
Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu bao gồm hai công đoạn:
+ Thu mua tạo nơi lấy hàng xuất khẩu với các tổ chức, địa phương trong nước.
+ Đàm phán ký kết với công ty nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng với đơn vị bạn.
cách thức này có một số ưu điểm là: thông qua đàm phán thảo luận trực tiếp dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc do đó:
+ Giảm được chi phí trung gian vì vậy sử dụng tăng trưởng doanh số cho doanh nghiệp.
+ Có nhiều điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp.
+ Chủ động trong việc tiêu thụ hàng hoá hàng hóa của mình.
ngoài ra bên cạnh những mặt tích cực thì phương pháp này còn bộc lộ một số những yếu điểm như:
+ easy xảy ra rủi ro
+ Nếu như không có cán bộ XNK có quá đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham dự ký kết hợp đồng ở một phân khúc mới hay sang chảnh phải lỗi lầm gây bất lợi cho mình.
+ Khối lượng hàng hoá khi tham giao giao dịch thường phải lớn thì mới đủ sức bù đắp được ngân sách trong việc giao dịch.
giống như khi tham dự xuất khẩu trực tiếp phải chuẩn bị tốt một số công việc. nghiên cứu hiểu kỹ về bạn hàng, loại hàng hoá định mua bán, các điều kiện giao dịch mang ra đàm đạo, cần phải xác định rõ mục tiêu và yêu cầu của công việc. chọn người có đủ năng lực tham dự giao dịch, cần nhắc khối lượng hàng hoá, dịch vụ quan trọng để công việc giao dịch có kết quả.
Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hình thức kinh doanh trong đó tổ chức XNK đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký hòa hợp đồng xuất khẩu, tiến hành sử dụng các thủ tục quan trọng để xuất khẩu vì thế nhà cung cấp và qua đó được hưởng một số vốn nhất định gọi là phí uỷ thác.
thể loại này bao gồm các bước sau:
+ Ký phối hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nước.
+ Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng bên nước ngoài.
+ Nhận phí uy thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước.
ưu thế của mẹo này:
Những người nhận uỷ thác hiểu rõ tình ảnh thị trường pháp luật và tập quán địa phương, vì thế họ có cấp độ đẩy mạnh việc buôn bán và thanh tránh bớt uỷ thác cho người uỷ thác.
so với người nhận uỷ thác là không cần bỏ vốn vào kinh doanh xây dựng công ăn việc làm cho nhân viên cùng lúc cũng thu được một khoản tiền đáng kể.
không những thế, việc dùng trung gian bên cạnh mặt tích cực như vừa mới nói ở trên còn có những han chế đáng kể giống như :
– công ty mua bán XNK mất đi sự liên kết trực tiếp với đối tượng thường phải đáp ứng những yêu sách của người trung gian.
– lợi nhuận bị share
kinh doanh đối lưu (Counter – trade)
a. Khái niệm: buôn bán đối lưu là một trong những mẹo giao dịch xuất khẩu trong xuất khẩu hòa hợp chặc chẽ với nhập khẩu, người bán hàng song song là ngời mua, lượng mua bán với nhau có giá trị tương đương. Trong cách thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương. Vì đặc điểm này mà công thức này còn có tên gọi không giống như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng.
b. Yêu cầu:
Các bên tham dự kinh doanh đối lưu mãi mãi phải quan tâm đến sự cân bằng trong thảo luận hàng hoá. Sự cần bằng này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
– Cân bằng về mặt hàng: mặt hàng quý đổi quét mặt hàng quý, mặt hàng tồn kho đổi quét mặt hàng tồn kho khó bán.
– Cân bằng về chi phí đối với giá thực tiễn nếu giá hàng nhập cao thì khi xuất đối phương giá hàng xuất khẩu cũng phải được tính cao tương ứng và trái lại.
– Cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau:
– Cân bằng về điều kiện giao hàng: nếu xuất khẩu CIF phải nhập khẩu CIF.
c. Các loại hình kinh doanh đối lưu
bán hàng đối lưu ra đời từ lâu trong lịch sử quan hệ hàng hoá tiền tệ, trong đó sớm nhất là hàng đổi dàng và bàn thảo bù trừ.
Nghiệp vụ hàng đổi hàng (barter): ở hai bên đàm luận trực tiếp với nhau nhưng hàng hoá có giá trị tương đương, việc giao hàng diễn ra gần như cùng lúc. ngoài ra trong hoạt động đổi hàng hiện đại người ta đủ nội lực dùng tiền để thành toán một phần tiêng hàng thêm nữa đủ sức lôi kéo 3-4 bên tham dự.
Nghiệp vụ bù trừ (Compensation) hai bên luận bàn hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi trị giá hàng giao, đến cuối kỳ hạn hạn, hai bên mới đối chiếu sổ sách, đối chiếu với trị giá giao và giá trị nhận. Số dư thì số tài nguyên đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ.
Nghiệp vụ mua đối lưu (Counper – Purchase) một bên tiến hành của công nghiệp Chế biến, bán thành phẩm nguyên vật liệu.
Nghiệp vụ này thường được dẫn dài từ 1 đến 5 năm còn trị giá hàng giao để thanh toán thường k đạt 100% trị giá hàng mua về.
Nghiệp vụ chuyển giao nghĩa vụ (Swich) bên nhận hàng chuyển khoản nợ về tiền hàng cho một bên thứ ba.
Giao dịch bồi hoàn (offset) người ta đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy những dịch vụ và ưu huệ (như ưu huệ đầu tư hoặc giúp đỡ bán sản phẩm) giao dịch này thường xảy ra trong ngành buôn bán những kỹ thuật quân sự mắc trong việc giao những chi tiết và những cụm chi tiết trong khuôn khổ hợp tác công nghiệp.
Trong việc chuyển giao công nghệ người ta thường tiến hành nghiệp vụ mya lại (buy back) trong đó một bên cung cấp thiết bị toàn bộ hoặc sáng chế mẹo kỹ thuật (know-how) cho bên không giống, cùng lúc cam kết mua lại những sản phẩm cho thiết bị hoặc sáng chế cách thức kỹ thuật đó xây dựng.
d.Biện pháp thực hiện
sử dụng thư tín dụng thương mại đối ứng (Reciprocal L/C): đây là loại L/C mà trong content của nó có điều khoản quy định (L/C này chỉ có hiệu lực khi người hưởng mở một L/C không giống có kim ngạch tương đương). giống như vậy hai bên vừa phải mở L/C vừa phải giao hàng.
sử dụng người thứ 3 khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, người thứ 3 chỉ giao chứng từ đó cho người nhận hàng khi người này đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có trị giá tương đương.
dùng một account đặc biệt ở bank để theo dõi việc giao hàng của hai bên, đến cuối một thời kỳ nhất định (như sau sáu tháng, sau một năm…) nếu còn có số dư thì bên nợ hoặc phải giao nốt hàng hoặc chuyển số dư sang kỳ giao hàng tiếp, hoặc thanh toán bằng ngoại tệ.
Phạt về việc nếu một bên k giao hàng hoặc chậm giao hàng phải nộp phạt bằng ngoại tệ mạnh, mức phạt do hai bên thoả thuận quy định trong hợp đồng.
Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là để gán nợ) được ký kết theo nghị định thư giữa hai chính Phủ.
Đây là một trong những thể loại xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường: tìm kiến bạn hàng, mặt khách k có sự nguy cơ trong thanh toán.
Trên thực tiễn thể loại xuất khẩu này chiếm tỷ trong rất nhỏ. Thông thường trong các nước XHCN trước đó và trong một số các đất nước có quan hệ mật thiết và chỉ trong một số doanh nghiệp nhà nước.
Xuất khẩu tại chỗ
Đây là thể loại mua bán mới nhưng vừa mới tăng trưởng rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại.
Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà KH vẫn mua được. vì thế nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập đối tượng nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu.
Mặt khác doanh nghiệp cũng k cần phải tiến hành các thủ tục như thủ tục hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá …do đó giảm được chi phí khá to.
Trong điều kiện nền kinh tế như bây giờ khuynh hướng di cư tạm thời ngày càng trở nên thông dụng mà tiêu biểu là số dân đi du lịch nước ngoài tăng trưởng nên khẩn trương. Các doanh nghiệp có nhận thức đây là một cơ hội tốt để bắt tay với các đơn vị du lịch để tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hoá để thu ngoại tệ. ngoài ra công ty còn có thể tận dụng cơ hội này để khuếch trương sản phẩm của mình thông qua những du khách.
Mặt khác với sự ra đời của hàng loạt khu chế xuất ở các nước thì đây cũng là một thể loại xuất khẩu có kết quả được các nước quan tâm hơn nữa. Việc thanh toán này cũng khẩn trương và thuận tiện.
Gia công quốc tế
Đây là một phương pháp kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán sản phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để tái chế ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).
Đây là một trong những thể loại xuất khẩu đang có bước tăng trưởng mạnh mẽ và được nhiều đất nước quan tâm. Bởi những ích lợi của nó
đối với bên đặt gia công: cách thức này giúp họ lợi dụng về giá rẻ, nguyên phụ và nhân lực của nước nhận gia công.
so với bên nhận gia công: công thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân công lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Sinhgapo….
Các hình thức gia công quốc tế:
Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế đủ nội lực tiến hành dưới hình thức sau đây:
Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi món hàng và trả phí gia công.
Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ mua sản phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công.
ngoài ra người ta còn đủ nội lực áp dụng hình thức phối hợp trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật liệu phụ.
Xét về chi phí gia công người ta đủ nội lực chia việc gia công thành hai ảnh thức:
+ Hợp đồng thực chi, thực thanh (cost phis contract) trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đạt gia công tất cả những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
+ Hợp đồng khoán trong đó ta định hình một trị giá định mức (target price) cho mỗi món hàng, gồm có ngân sách định mức và thù lao định mức. Dù ngân sách của bên nhận gia công là bao nhiêu đi chăng nữa, hai bên vẫn thanh toán theo định mức đó.
mối liên kết giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công được xác định bằng hợp đồng gia công. Hợp đồng gia công thường được quy định một số điều khoản giống như sản phẩm, nguyên liệu, chi phí, thanh toán, giao nhận…
Tạm nhập tái xuất
Đây là một thể loại xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đang nhập khẩu, chưa qua tái chế ở nước tái xuất.qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ to hơn số ngoại tệ đang bỏ ra ban đầu.
Hợp đồng này luôn lôi kéo ba nước xuất khẩu, nước tái xuất, và nước nhập khẩu. vì vậy người đọc gọi giao dịch tái xuất là giao dịck ba bên hay giao dịch tam giác.( Triangirlar transaction)
Tái xuất đủ nội lực thực hiện bằng một trong hai hình thức sau:
Tái xuất theo đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu. Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền đồng tiền được xuất phát từ nước nhập khẩu sang nước tái xuất và khẩn trương được chuyển sang nước xuất khẩu.
ưu thế của thể loại xuất khẩu này là công ty có thể thu được doanh số cao mà chẳng phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, mức độ thu hồi vốn cũng mau hơn.
mua bán tái xuất đòi hỏ sự sắc xảo tình hình đối tượng và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hoạt động mua bán. vì vậy khi doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo phương pháp này thì cần phải có đội ngũ cán bộ có chuyện môn cao.
Nguồn: https://voer.edu.vn/